Soạn văn bài đây thôn vĩ dạ

Thảo luận trong 'Văn Học Tổng Hợp' bắt đầu bởi Mrtoong, 21 Tháng hai 2013.

  1. Mrtoong Active Member

    Làm thành viên từ:
    12 Tháng sáu 2012
    Số bài viết:
    1,158
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    38
    Soạn Văn bài Đây Thôn Vĩ Dạ, soan van bai day thon vi da


    1. Cảnh vườn tược và con người thôn Vĩ:

    - Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ vừa hàm ý trách móc nhẹ nhàng, vừa nối tiếc dịu dàng .Nó gieo vào người đọc nỗi ám ảnh về thôn vĩ

    “Sao anh không về chơi thôn vĩ?”

    - Sau câu hỏi tu từ ấy cảnh vườn tược thôn vĩ hiện ra rất đẹp

    “Nhìn nắng hàng cau…
    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc…

     Cảnh vật tắm mình trong ánh bình minh, mang một vẻ đẹp tinh khôi, dịu dàng và rất Huế.

    - Ẩn sau khóm Trúc hình ảnh con ngưòi hiện lên thật duyên dáng:

    + Lá trúc: hình ảnh mảnh mai, thanh tú.

    + “mặt chữ điền”: gương mặt dịu dàng phúc hậu thoáng sau cành là trức thướt tha

     hình ảnh vừa thực, vừa như có phần hư ảo, thể hiện nét kín đáo của con người khuất sau khóm vườn xinh xắn.

    => Khổ thơ 1 bộc lộ tình cảm trân trọng thiết tha của tác giả đối với thôn Vĩ qua cách nhìn con người và cảnh vật: thôn vĩ tươi đẹp, con người phúc hậu hiền hoà.

    2. Cảnh sông nước mây trời xứ Huế:

    - Cảnh Gió theo lối gió, mây đường mây
    Dòng nước buồn hiu

    Buồn xa vắng, mọi vật trong trạng thái chia li.

    - Con người mang một niềm băn khoăn rất thơ mộng
    “Thuyền ai…tối nay”

    câu hỏi, cách nói phiếm chỉ, câu thơ như một nỗi mong chờ, một hi vọng thiết tha, một nỗi buồn man mác.

    => Hai câu thơ sau bộc lộ một tình yêu đằm thắm, kín đáo thiết tha.

    => Khổ thơ hai phác hoạ đúng cái hồn vẻ đẹp huyền ảo, nhịp điệu khoan thai của xứ Huế gợi một tình yêu dịu dàng, kín đáo.

    3. Hình ảnh người thiếu nữ Huế và tâm trạng tình yêu của nhà thơ:

    - “Khách đường xa” điệp ngữ  nhấn mạnh hình tượng con người trong mộng tưởng.

    - Hình ảnh người thiếu nữ dường như tan loãng trong khói sương của xứ Huế, chỉ thấy lung linh vẻ đẹp “mờ nhân ảnh”

    - Câu hỏi phiếm chỉ cực tả nỗi băn khoăn không biết tình yêu có bền chặt hay cũng mờ ảo như sương khói.

    + Câu thơ có hai từ “ai : yêu thương, khát khao
    được yêu thương
    chất chứa sự vô vọng

    hoặc

    Câu 1: Nét đẹp phong cảnh và tâm trạng của tác giả trong khổ thơ đầu là:

    Bài thơ mở đầu bằng một câu hỏi đặc biệt gần như vô định nhưng thực chất là cách cái tôi trữ tình tự phân thân để chất vấn và bộc lộ tâm trạng của mình.

    Cảnh vật hiện lên trong khổ thơ đầu toát lên vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết, trong sáng và e ấp nhưng cũng có vẻ hờ hững, xa xôi điều đó càng làm tăng thêm nỗi ước ao và niềm đắm say mãnh liệt được trở về với những kỉ niệm đã qua ở mảnh đất này.

    + Nắng hàng cau nắng mới lên: gợi vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết; giản dị mà giàu sức gợi.

    + Vườn: mướt quá vừa là một sự cực tả cái vẻ mượt mà, non tơ, óng chuốt, mởn mởn xanh tươi vừa thể hiện giọng điệu trữ tình mê đắm, say sưa. Hình ảnh so sánh xanh như ngọc rất tự nhiên, giản dị nhưng vẫn gợi một vẻ đẹp trong sáng thanh thoát và sang trọng. Hình ảnh so sánh này còn gợi lên vẻ đẹp tốt tươi, màu mỡ và trù phú của làng quê này.

    - mướt quá: vừa là sự cực tả tính chất của cảnh vật nhưng đồng thời cũng thể hiện cảm giác chới với của nhân vật trữ tình khi đối diện với một điều gì đó xa vời.

    - vườn ai: gợi cảm giác mơ hồ, bất định gây ấn tượng về một vẻ đẹp bí ẩn không thể chiếm lĩnh, không thể sở hữu.

    - lá trúc che ngang mặt chữ điền: thể hiện mối quan hệ người - cảnh -> gợi vẻ đẹp kín đáo, e ấp. Giọng điệu trữ tình khách quan càng khiến ý thơ thêm giàu chất mộng. Hình ảnh thơ vừa gần gũi nhưng cũng có gì xa cácch, thực đấy mà cũng hư đấy.

    Câu 2: Hìnk ảnh gió, mây, sông, trăng trong khổ thứ 2 là:

    + dòng nước – buồn thiu: bằng nghệ thuật nhân hoá, tác gải đã phả hồn vào dòng sông. Dòng sông dưới cảm nhận của Hàn Mặc Tử không còn vô tri vô giác mà cũng có nỗi niềm, có tâm trạng. (Ở đây, nỗi buồn đã được hình tượng hoá, nỗi buồn được bộc lộ trên gương mặt, diện mạo của sự vật lan toả và thấm đẫm vào không gian) Hoá ra dòng chảy lững lờ của sông Hương không còn do khách quan mà chính là do nó mang nặng nỗi buồn.

    - Sông nước được miêu tả gắn với hình tượng trăng. sông -> sông trăng, thuyền -> thuyền trăng gợi không khí mơ hồ huyền ảo, đẹp một cách thơ mộng làm cho không gian nghệ thuật ở đây càng thêm hư ảo mênh mang. Dòng sông của hiện thực đã trở thành dòng sông cõi mộng. Cảnh vật đã được ảo hóa gợi lên cảm giác chơi vơi trong tâm trạng của nhà thơ.

    + Sự phiêu tán chia lìa của cảnh vật khiến cho thi nhân với tâm hồn nhạy cảm thấy mình như đang bị bỏ rơi và trăng xuất hiện như là một niềm an ủi, một điểm tựa của tâm hồn. Không thể tìm thấy sự hòa hợp trong cõi thực thi nhân tìm đến với cõi mộng. Trăng lúc này như là niềm hy vọng duy nhất của thi nhân.

    Tuy nhiên đối diện với trăng thi nhân vẫn mang một tâm trạng bất an. Thuyền ai đậu bến sông trăng, gợi sự mơ hồ, xa lạ không thể sở hữu. Một chữ kịp khiến cho khoảng thời gian tối nay càng trở nên ngắn ngủi, như một giới hạn trong quỹ thời gian ít ỏi còn lại của thi nhân.

    Cảm giác phấp phỏng, lo âu, khắc khoải tràn ngập ý thơ.

    Thời gian nghệ thuật: nếu trong khổ thơ đầu thời gian còn có sự nhất quán thì đến khổ thơ thứ hai thời gian đã trở nên bất định, không đồng nhất. Điều này phản ánh tâm trạng bất an, chống chếnh của thi nhân.

    Câu 3: Khổ thơ thứ 3, nhà thơ bộc lộ tâm sự của mìnk như thế nào? Chút hoài nghi trong câu thơ "Ai biết tình ai có đậm đà?" có biểu hiện niềm tha thiết với cuộc đời không? Vì Sao?

    - Nhịp thơ: gấp gáp, khẩn khoản hơn; dường như sự khác khoải, bấy an và hoài nghi trong lòng người đã biến thành nhịp điệu.

    - Hình ảnh: khách đường xa, áo em trắng quá, sương khói mờ nhân ảnh

    -> khách đường xa lặp lại hai lần, lần sau mất chữ mơ khiến thanh âm trở nên khắc khoải hơn, làm tăng thêm nỗi niềm khao khát của thi nhân. Khách + đường xa gợi cảm giác xa xôi, trống trải

    -> chữ quá trong câu thơ thứ hai như xót xa nuối tiếc.

    -> Hình ảnh sương khói hiện hữu chiếm lĩnh ý thơ.

    Tất cả tan vào sương khói như một ảo ảnh. Cái tôi trữ tình đau đớn, xót xa trước một sự thật quá phũ phàng.

    - Câu thơ kết: từ ai lặp lại hai lần, tạo thành một câu hỏi tha thiết mà xót xa của một tâm hồn đang khao khát được yêu, khao khát sự đồng điệu, đồng cảm. Đồng thời nó cũng thể hiện tâm trạng bất an, hoài nghi cùa cái tôi trữ tình. Đó là cái hoài nghi của một tâm hồn yêu đời, yêu sống.

    => Khổ thơ bao trùm một màu trắng lạnh lẽo của ảo ảnh, của sương khói gợi cảm giác huyền hồ bất định.

    Câu 4: Có điều đáng chú ý trong tứ thơ và bút pháp của bài thơ là:

    - Bài thơ có ba khổ và mỗi khổ đều có một câu hỏi tu từ (có người cho rằng mỗi khổ thơ là một câu hỏi đầy khác khoải)

    - Trong mỗi khổ thơ đều dùng đại từ phiếm chỉ “ai”: vườn ai, thuyền ai, ai biết tình ai

    - Tổ chức bài thơ lạ, không có sự liên kết về hình thức bên ngoài (liên kết ngầm) Tính chất hư ảo ở các khổ thơ cang về sau càng tăng dần.

    => Điều này cho thất bài thơ đã thể hiện một tâm trạng băn khoăn, hoài nghi về một điều gì đấy được thể hiện một cách mơ hồ, không xác định. Vì vậy không thể tiếp cận bài thơ này như một bài thơ tả cảnh đơn thuần. (thực chất bài thơ là một lời độc thoại nội tâm)

Chia sẻ trang này